Đây là các giống rau chất lượng cao được các nhà khoa học Viện Nghiên cứu Rau quả nghiên cứu, chọn tạo trong chương trình Nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng nông lâm nghiệp và giống vật nuôi giai đoạn 2001-2005
Hội đồng KHCN, Bộ Khoa học và Công nghệ vừa nghiệm thu và đánh giá cao kết quả dự án sản xuất thử nghiệm ""Hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống, kỹ thuật thâm canh giống cà chua PT18, VT3 và giống ớt lai HB9, HB14 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu" của Viện Nghiên cứu Rau quả do PGS. TS Trần Khắc Thi làm chủ nhiệm.Đây là các giống rau chất lượng cao được các nhà khoa học Viện Nghiên cứu Rau quả nghiên cứu, chọn tạo trong chương trình "Nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng nông lâm nghiệp và giống vật nuôi giai đoạn 2001-2005" do Bộ NN-PTNT điều hành, đã được công nhận là giống quốc gia và giống tạm thời từ năm 2004. Cùng ngọn núi đồng bằng việc hoàn thiện các qui trình công nghệ SX hạt giống, qui trình thâm canh tiên tiến, xây dựng các mô hình thâm canh các giống cà chua thuần PT18, cà chua lai F1 VT3 và 2 giống ớt lai F1 HB9, HB14 đã đủ điều kiện đưa vào danh mục các giống cây trồng được phép SX tại Việt Nam.
Giống cà chua thuần PT18: PT18 là giống cà chua có dạng hình sinh trưởng hữu hạn do Viện Nghiên cứu Rau quả chọn tạo từ các giống cà chua nhập nội từ Trung tâm phát triển rau châu Á (AVRDC), được Bộ NN-PTNT công nhận là giống Quốc gia và cho phép đưa vào sản xuất đại trà từ tháng 8 năm 2004. PT18 có thời gian sinh trưởng ngắn (100-120 ngày), tán gọn, phân cành ít, khả năng kháng bệnh tốt đặc biệt pha trộn biển bệnh héo xanh vi khuẩn. Giống có tiềm năng năng suất cao 45-50 tấn/ha, chất lượng tốt đi tới độ Brix đạt 4,8-5,2, độ pH thấp <4,5, dạng quả tròn thuôn dài, khi chín có màu đỏ đậm, không bị nứt quả trong tất cả các thời vụ trồng (kể cả trồng vụ trái). PT18 là giống có khả năng trồng rải vụ tốt, có thể trồng và cho năng suất cao trong khoảng thời gian từ tháng 8 1 có tháng 3 năm sau, cho thu hoạch từ khoảng cuối tháng 11, đầu tháng 12 và kéo dài cho pha trộn biển tháng 6 năm sau. Giống PT18 thích hợp cho ăn tươi và làm nguyên liệu chế biến công nghiệp.
Giống cà chua lai F1 VT3: Giống do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chọn tạo từ tổ hợp lai (15xVX), được Bộ Nông nghiệp-PTNT công nhận là giống tạm thời và cho phép đưa vào sản xuất thử nghiệm từ tháng 8 năm 2004. VT3 là giống cà chua có dạng hình bán hữu hạn, cây cao 90-100cm, thời gian sinh trưởng 125-135 ngày, quả tròn, khối lượng đạt 90-100g,13-17 quả/cây, năng suất bình quân đạt 45-50 tấn/ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt tới 60 tấn/ha, khả năng chống chịu bệnh sương mai, héo xanh virus khá, thích hợp cho ăn tươi và chế biến công nghiệp. Có thể trồng được 2 vụ: vụ chính gieo hạt và trồng từ 15-9 1 có 15-10, thu hoạch từ cuối tháng 12 pha trộn biển tháng tháng 2 năm sau; vụ muộn: gieo và trồng từ 5-11 pha trộn biển 20-11, thu hoạch từ đầu tháng 3 đến tháng 4 năm sau.
Giống ớt lai F1 HB9: HB9 là giống ớt cay lai F1 do Viện Nghiên cứu Rau quả lai tạo, được Bộ Nông nghiệp-PTNT công nhận là giống tạm thời và cho phép đưa vào sản xuất thử nghiệm từ tháng 8 năm 2004. HB9 có thời gian sinh trưởng từ 160-170 ngày, cây cao 65-85cm, tán gọn, lá xanh đậm, hoa trắng, quả non màu xanh nhạt, khi chín đỏ tươi, hơi gồ ghề. HB9 ra quả tập trung, rủ xuống đất (chỉ địa), quả dài 14-16cm, hơi cong ở đuôi. Khối lượng quả bình quân đạt 13-16g, tỷ lệ thịt quả đạt 81-85%, tỷ lệ chất khô đạt 12-14%, độ cay khá, số quả trên cây đạt 55-75 quả, năng suất trung bình đạt 20-23 tấn/ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt năng suất 30-35 tấn/ha, khả năng chống bệnh thán thư khá. HB9 thích hợp cho chế biến dưới các dạng muối nguyên quả, ớt khô, ớt nghiền bột… Giống ớt cay lai F1 HB9 có thể trồng được 2 vụ/năm:
- Vụ thu đông: gieo hạt cuối tháng 7, đầu tháng 8; trồng vào khoảng trung tuần tháng 9, thu hoạch cuối tháng 11, 12.
- Vụ xuân hè: gieo hạt cuối tháng 11, đầu tháng 12; trồng từ giữa pha trộn biển cuối tháng 1, thu hoạch quả từ tháng 5, tháng 6.
Giống ớt cay lai F1 HB14: Đây là con lai của tổ hợp lai PV6/MC11 do Viện Nghiên cứu Rau quả lai tạo, được Bộ Nông nghiệp-PTNT công nhận là giống tạm thời và cho phép đưa vào SX thử nghiệp từ tháng 8 năm 2004. Cây HB14 cao 60-70cm, tán gọn, lá xanh đậm, hoa trắng, quả non xanh nhạt, chín đỏ, hơi gồ ghề, phần đuôi quả hơi cong, ra quả tập trung, rủ xuống đất (chỉ địa), quả dài 14-16cm, thẳng. Khối lượng bình quân đạt 14-16g, tỷ lệ thịt quả đạt 81-85%, tỷ lệ chất khô đạt 12-14%, độ cay trung bình. Bình quân một cây cho khoảng 65-85 quả, năng suất bình quân đạt 20-25 tấn/ha, thâm canh tốt có thể đạt 30-35 tấn/ha, khả năng chống bệnh thán thư khá, phù hợp cho ăn tươi và chế biến. Có thể trồng 2 vụ/năm như giống HB9.
Năm 1980, Galston đã tìm ra 16 nguyên tố thiết yếu
Nitơ (N): Nitơ có mặt trong rất nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng, có vai trò quyết định trong quá trình trao đổi chất và năng lượng cũng như các hoạt động sinh lý của cây.
Khác
Atlantic là giống khoai tây có chất lượng cao phù hợp cho chế biến khoai tây chiên lát (chips) công nghiệp. Giống có khả năng sinh trưởng mạnh, thờigian sinh trưởng (90-100 ngày), tiềm năng năng suất cao (25 - 35 tấn/ha), tỷ lệcủ thương phẩm lớn (75-80%). Atlantic là giống chịu nhiệt tốt, nhưng mẫn cảmvới bệnh mốc sương trong điều kiện thời tiết lạnh, mưa hoặc sương mù nhiều.Giống khoai tây Atlantic đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống chosản xuất thử theo Quyết định số 3468/QĐ–BNN-TT, ngày 05/11/2007 và được công nhận là giống cây trồng theo Quyết định số 305/QĐ-TT-CLT ký ngày 04/12/2008.
Hiện nay, bên cạnh việc áp dụng biện pháp hóa học, sinh học, các nhà khoa học và chuyên gia bảo vệ thực vật còn khuyến khích nhà vườn áp dụng biện pháp bao trái trên cây ăn quả nhằm giảm thiểu thiệt hại do sâu, bệnh gây ra. Biện pháp bao trái vừa bảo vệ trái cây hiệu quả, vừa bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và rất an toàn cho con người và môi trường. Tuy nhiên để đạt được kết quả như mong đợi, các nhà vườn phải lưu ý tùy từng loại cây trồng mà chọn lựa các loại túi bao phù hợp.


