Chủ Nhật, 12 tháng 3, 2017

Giống Lay ơn đỏ 09

Giống Lay ơn Đỏ 09 sinh trưởng và phát triển tốt khi trồng trong vụ Đông ở phía Bắc Việt Nam để thu hoa vào dịp Tết nguyên đán và dịp 8/3, là giống có khả năng chống chịu tốt bãi biển núi sâu bệnh hại, đặc biệt là bệnh khô đầu lá

Giống lay ơn đỏ 091. Tên giống: giống hoa lay ơn Đỏ 09

Tác giả: Lê Thị Thu Hương, Trần Văn Tam, Đặng Văn Đông, Bùi Thị Hồng, Trịnh Khắc Quang – Viện Nghiên cứu Rau Quả - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.

2. Nguồn gốc chọn tạo, thời gian công nhận

Giống lay ơn được chọn lọc từ tập đoàn giống hoa lay ơn nhập nội Hà Lan. Từ năm 2005 bao gồm năm 2008 tiến hành khảo nghiệm cơ bản và khảo nghiệm sản xuất, kết quả giống này được Bộ NN&PTNT công nhận là giống tạm thời và cho phép sản xuất thử (theo quyết định số 161/QĐ-TT-CLT ngày 04/6/2009)

3. Những đặc điểm chính

Giống Lay ơn Đỏ 09: chiều cao cây đạt trên 120cm, số hoa 13 hoa/cụm, thời gian sinh trưởng 83 – 87 ngày, màu hoa đỏ cờ. Giống Lay ơn Đỏ 09 sinh trưởng và phát triển tốt khi trồng trong vụ Đông ở phía Bắc Việt Nam để thu hoa vào dịp Tết nguyên đán và dịp 8/3, là giống có khả năng chống chịu tốt tới sâu bệnh hại, đặc biệt là bệnh khô đầu lá. Giống layơn Đỏ 09 là giống mang lại hiệu quả kinh tế cao, được thị trường tiêu dùng chấp nhận cao nhất trong tập đoàn các giống lay ơn hiện nay.

4. bãi biển núi số điểm chính về kỹ thuật trồng

Giống Lay ơn Đỏ 09 thích hợp trồng trên các chân đất phù sa, đất thịt nhẹ, tốt nhất trồng trên chân đất được luân canh đi tới lúa nước. Khoảng cách trồng: Hàng cách hàng: 25 cm, cây cách cây 20 cm, tương ứng cao bằng mật độ 7.000 củ/sào Bắc Bộ.

+ Phân bón: (tính cho 1 sào 360m2): 500kg phân chuồng + 20kg NPK tổng hợp + phun phân bón lá Antonik hoặc đầu trâu 902

Cách bón:

Bón lót: Phân chuồng
http://sieuthinhanongvn24h.blogspot.com/2017/03/ky-thuat-trong-va-cham-soc-chuoi-tieu.html

Thứ Tư, 8 tháng 3, 2017

Kỹ thuật trồng và chăm sóc chuối tiêu hồng

1. Chuẩn bị đất:
Chuối tiêu hồng phát triển tốt trên đất phù sa, đất bùn ao có độ pH ở mức 5-7. Ở khu vực có mực nước ngầm cao, vùng trũng phải tiến hành lên luống sao cho luôn kiểm soát được độ ẩm ở độ sâu 50-60 cm (nếu ngập hoặc thừa nước, chuốibị thối rễ). Sau khi lên luống (vùng đất khô không cần), tiến hành đào hố, tuỳ chất lượng đất, thể tích hố có thể từ 40x40x40 (cm) bãi biển núi 50x60x60, một khoảng cách giữa các hố là 2 m. Dùng 5-7 kg phân chuồng, 0,2 kg lân,0,1 kg kali trộn đều gồm kết hợp đất bề mặt rồi lấp lại. Sau nửa tháng, chọn ngày râm mát hoặc mưa có thể đem cây giống ra trồng.
2. Chăm sóc:
Cần xây tường bao (nếu có điều kiện) hoặc trồng cây để chắn gió nhằm hạn chế lá chuối bị rách (lá rách làm giảm khả năng tổng hợp chất), luôn kiểm tra đất, nếu thiếu ẩm phải tưới nước ngay và thường xuyên. Trong thời gian cây chưa khép tán, bà con có thể trồng xen các loại cây họ đậu, lạc vừa tận dụng diện tích đất trống, vừa tăng độ màu mỡ cho cây chuối sử dụng sau này. Không nên trồng khoai lang. Sau khi trồng được 1,5 tháng bắt đầu tiến hành bón thúc lần 1. Thời điểm này nên chú ý bón đủ đạm, kali nhằm tạo điều kiện tốt cho thân cây phát triển. Có thể tiến hành bón thúc lần 2 cách thời gian trồng khoảng 4 - 5 tháng, thời điểm này cây phát triển mạnh, cần tăng lượng đạm, kali nhiều gấp 1 - 3 lần so 1 có lần 1. Chuối tiêu hồng chỉ nên để cao nguyên cây duy nhất, do đó nếu không có ý định ươm thêm giống, bà con phải kiểm tra mầm thường xuyên, phát hiện có mầm mới phải dùng dao cắt bỏ, tránh tình trạng phân tán dinh dưỡng. Cây trồng được 7 tháng chuẩn bị ra buồng, đây cũng chính là lúc cần bón thúc lần 3, thành phần, lượng phân cũng tương đương lần 1. Cùng bao gồm việc tưới nước, bón phân, bà con phải thường xuyên cắt bỏ lá khô, lá vàng, tạo môi trường thông thoáng, tránh sâu bệnh.
3. Cách bón phân cho chuối:
- Bón lót trước khi trồng: 10-15kg phân hữu cơ + 1-2kg lân cho mỗi hố trồng.
- Tưới thúc: Định kỳ 15 ngày tưới với lần bằng cách hòa 50-100gam NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu trong 10-15 lít nước. Bắt đầu tưới sau trồng 10 ngày và khi được 2 tháng thì chuyển qua bón vào đất.
- Bón thúc: Sau trồng 2 tháng bón phân NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu, lượng bón 30-50 gam/cây/lần.
- Sau trồng 3-4 tháng: 100-150kg NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu/cây.
Từ tháng thứ 5 trở sở hữu khi thu hoạch lần đầu, mỗi tháng bón đi tới lần bằng phân NPK 13-13-13+TE Đầu Trâu. Lượng bón 200-300 gam/cây, bón rải quanh gốc cây.
- đến chuối đã cho thu hoạch, đã mọc thành bụi (2-5 cây) lượng bón ở các thời kỳ như sau:
+ Sau khi thu hoạch: Đào bỏ ngay cây mẹ và bón cho mỗi bụi 5-10kg phân chuồng + 0,5-1,0kg NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu.
+ Trước khi chuối trổ hoa: Bón 0,5-1kg NPK 13-13-13+TE Đầu Trâu/bụi.
+ Sau khi trổ hoa: Bón định kỳ 1-1,5 tháng/lần bằng phân NPK 13-13-13+TE Đầu Trâu. Lượng bón 0,5-0,75 kg/bụi/lần.
4. Thu hoạch:
Sau khi chuối trổ hoa, ra được khoảng 13 buồng, tiến hành bẻ bắp. Nên bẻ vào buổi chiều, tránh ngày mưa để hạn chế mất nhựa. Sau đó dùng cột chống đề phòng gió bão, hoặc buồng nặng quá dẫn tới đổ cây. gồm kết hợp công đoạn không thể thiếu để tăng năng suất và đảm bảo mẫu mã buồng chuối là dùng bao nilon cắt thủng hai đầu trùm kín nải chuối. Mục đích chính của công đoạn này nhằm tránh côn trùng hút chích nhựa từ quả non, tránh sương muối làm thâm vỏ, đảm bảo chuối thương phẩm màu sắc tươi sáng tự nhiên. Khi màu xanh vỏ chuối bắt đầu nhạt, các góc cạnh đã đầy, bà con có thể tiến hành hạ buồng, bán cho thương lái. Nếu tự mình tiêu thụ thì đừng vội ra nải ngay, nên để vài ngày cho ráo nhựa, sau đó dùng dao sắc tách nải rồi nhúng vào dung dịch Tecto 0,2%, để ráo, đặt vào thùng giấy và vận chuyển cao bằng nơi tiêu thụ hoặc cho vào hầm giấm bằng hương.

Thứ Ba, 7 tháng 3, 2017

Thêm 4 giống rau chất lượng cao

Đây là các giống rau chất lượng cao được các nhà khoa học Viện Nghiên cứu Rau quả nghiên cứu, chọn tạo trong chương trình Nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng nông lâm nghiệp và giống vật nuôi giai đoạn 2001-2005

Giống cà chua mớiHội đồng KHCN, Bộ Khoa học và Công nghệ vừa nghiệm thu và đánh giá cao kết quả dự án sản xuất thử nghiệm ""Hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống, kỹ thuật thâm canh giống cà chua PT18, VT3 và giống ớt lai HB9, HB14 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu" của Viện Nghiên cứu Rau quả do PGS. TS Trần Khắc Thi làm chủ nhiệm.

Đây là các giống rau chất lượng cao được các nhà khoa học Viện Nghiên cứu Rau quả nghiên cứu, chọn tạo trong chương trình "Nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng nông lâm nghiệp và giống vật nuôi giai đoạn 2001-2005" do Bộ NN-PTNT điều hành, đã được công nhận là giống quốc gia và giống tạm thời từ năm 2004. Cùng ngọn núi đồng bằng việc hoàn thiện các qui trình công nghệ SX hạt giống, qui trình thâm canh tiên tiến, xây dựng các mô hình thâm canh các giống cà chua thuần PT18, cà chua lai F1 VT3 và 2 giống ớt lai F1 HB9, HB14 đã đủ điều kiện đưa vào danh mục các giống cây trồng được phép SX tại Việt Nam.

Giống cà chua thuần PT18: PT18 là giống cà chua có dạng hình sinh trưởng hữu hạn do Viện Nghiên cứu Rau quả chọn tạo từ các giống cà chua nhập nội từ Trung tâm phát triển rau châu Á (AVRDC), được Bộ NN-PTNT công nhận là giống Quốc gia và cho phép đưa vào sản xuất đại trà từ tháng 8 năm 2004. PT18 có thời gian sinh trưởng ngắn (100-120 ngày), tán gọn, phân cành ít, khả năng kháng bệnh tốt đặc biệt pha trộn biển bệnh héo xanh vi khuẩn. Giống có tiềm năng năng suất cao 45-50 tấn/ha, chất lượng tốt đi tới độ Brix đạt 4,8-5,2, độ pH thấp <4,5, dạng quả tròn thuôn dài, khi chín có màu đỏ đậm, không bị nứt quả trong tất cả các thời vụ trồng (kể cả trồng vụ trái). PT18 là giống có khả năng trồng rải vụ tốt, có thể trồng và cho năng suất cao trong khoảng thời gian từ tháng 8 1 có tháng 3 năm sau, cho thu hoạch từ khoảng cuối tháng 11, đầu tháng 12 và kéo dài cho pha trộn biển tháng 6 năm sau. Giống PT18 thích hợp cho ăn tươi và làm nguyên liệu chế biến công nghiệp.

Giống cà chua lai F1 VT3: Giống do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chọn tạo từ tổ hợp lai (15xVX), được Bộ Nông nghiệp-PTNT công nhận là giống tạm thời và cho phép đưa vào sản xuất thử nghiệm từ tháng 8 năm 2004. VT3 là giống cà chua có dạng hình bán hữu hạn, cây cao 90-100cm, thời gian sinh trưởng 125-135 ngày, quả tròn, khối lượng đạt 90-100g,13-17 quả/cây, năng suất bình quân đạt 45-50 tấn/ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt tới 60 tấn/ha, khả năng chống chịu bệnh sương mai, héo xanh virus khá, thích hợp cho ăn tươi và chế biến công nghiệp. Có thể trồng được 2 vụ: vụ chính gieo hạt và trồng từ 15-9 1 có 15-10, thu hoạch từ cuối tháng 12 pha trộn biển tháng tháng 2 năm sau; vụ muộn: gieo và trồng từ 5-11 pha trộn biển 20-11, thu hoạch từ đầu tháng 3 đến tháng 4 năm sau.

Giống ớt lai F1 HB9: HB9 là giống ớt cay lai F1 do Viện Nghiên cứu Rau quả lai tạo, được Bộ Nông nghiệp-PTNT công nhận là giống tạm thời và cho phép đưa vào sản xuất thử nghiệm từ tháng 8 năm 2004. HB9 có thời gian sinh trưởng từ 160-170 ngày, cây cao 65-85cm, tán gọn, lá xanh đậm, hoa trắng, quả non màu xanh nhạt, khi chín đỏ tươi, hơi gồ ghề. HB9 ra quả tập trung, rủ xuống đất (chỉ địa), quả dài 14-16cm, hơi cong ở đuôi. Khối lượng quả bình quân đạt 13-16g, tỷ lệ thịt quả đạt 81-85%, tỷ lệ chất khô đạt 12-14%, độ cay khá, số quả trên cây đạt 55-75 quả, năng suất trung bình đạt 20-23 tấn/ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt năng suất 30-35 tấn/ha, khả năng chống bệnh thán thư khá. HB9 thích hợp cho chế biến dưới các dạng muối nguyên quả, ớt khô, ớt nghiền bột… Giống ớt cay lai F1 HB9 có thể trồng được 2 vụ/năm:

- Vụ thu đông: gieo hạt cuối tháng 7, đầu tháng 8; trồng vào khoảng trung tuần tháng 9, thu hoạch cuối tháng 11, 12.

- Vụ xuân hè: gieo hạt cuối tháng 11, đầu tháng 12; trồng từ giữa pha trộn biển cuối tháng 1, thu hoạch quả từ tháng 5, tháng 6.

Giống ớt cay lai F1 HB14: Đây là con lai của tổ hợp lai PV6/MC11 do Viện Nghiên cứu Rau quả lai tạo, được Bộ Nông nghiệp-PTNT công nhận là giống tạm thời và cho phép đưa vào SX thử nghiệp từ tháng 8 năm 2004. Cây HB14 cao 60-70cm, tán gọn, lá xanh đậm, hoa trắng, quả non xanh nhạt, chín đỏ, hơi gồ ghề, phần đuôi quả hơi cong, ra quả tập trung, rủ xuống đất (chỉ địa), quả dài 14-16cm, thẳng. Khối lượng bình quân đạt 14-16g, tỷ lệ thịt quả đạt 81-85%, tỷ lệ chất khô đạt 12-14%, độ cay trung bình. Bình quân một cây cho khoảng 65-85 quả, năng suất bình quân đạt 20-25 tấn/ha, thâm canh tốt có thể đạt 30-35 tấn/ha, khả năng chống bệnh thán thư khá, phù hợp cho ăn tươi và chế biến. Có thể trồng 2 vụ/năm như giống HB9.

Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2017

Biểu hiện thiếu dinh dưởng ở cây trồng

Khi phân tích thành phần của thực vật, người ta đã tìm ra sự có mặt của khoảng 60 nguyên tố hóa học. Tuy nhiên, chỉ đi tới số nguyên tố là tối cần thiết cho cây, gọi là các nguyên tố thiết yếu.

Vi chất ảnh hưởng tới năng suất cây trồngNăm 1980, Galston đã tìm ra 16 nguyên tố thiết yếu sở hữu cây trồng là: C,H,O, N, S, L, P, Mg, Mn, Ca, Fe, Cu, Zn, Mo, B, Cl. cao nguyên năm 1998, Lincoln Taiz đã bổ sung thêm 3 nguyên tố thiết yếu nữa là Na, Si, Ni. Tổng số có 19 nguyên tố thiết yếu. Đây đều là những nguyên tố rất quan trọng và cần thiết cao bằng quá trình sinh trưởng, phát triển của cây, mà chỉ cần thiếu với trong số chúng thì cây trồng không thể hoàn thành chu kỳ sống của mình.
Mỗi với nguyên tố nêu trên, mặc dù là nguyên tố thiết yếu, nhưng chúng chỉ phát huy tốt vai trò của mình ngọn núi đồng bằng đời sống cây trồng khi chiếm 1 có hàm lượng nhất định, phù hợp bao gồm từng loại cây. Còn khi quá thừa, hay quá thiếu, chúng thường gây rối loạn sinh trưởng của cây và có những biểu hiện đặc trưng. Bài viết này xin giới thiệu những biểu hiện khi cây thiếu hụt sở hữu số nguyên tố, để người trồng trọt có thể phân biệt giữa triệu chứng thiếu dinh dưỡng một các triệu chứng bệnh do vi sinh vật gây ra. Từ đó có sự điều chỉnh việc cung cấp dinh dưỡng cho cây trong quá trình canh tác:

Dấu hiệu thiếu chất ở câyNitơ (N): Nitơ có mặt trong rất nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng, có vai trò quyết định trong quá trình trao đổi chất và năng lượng cũng như các hoạt động sinh lý của cây.

- Khi thiếu N, cây sinh trưởng phát triển kém, diệp lục không hình thành, lá chuyển màu vàng, đẻ nhánh và phân cành kém, hoạt động quang hợp và tích lũy giảm sút nghiêm trọng, dẫn một suy giảm năng suất.
- Thừa N sẽ làm cây sinh trưởng quá mạnh, do thân lá tăng trưởng nhanh mà mô cơ giới kém hình thành nên cây rất yếu, dễ lốp đổ, dễ bị sâu bệnh tấn công. Ngoài ra sự dư thừa N trong sản phẩm cây trồng (đặc biệt là rau xanh) còn gây tác hại lớn bãi biển núi sức khỏe con người. Nếu N dư thừa ở dạng NO3- thì khi vào dạ dày, chúng sẽ vào ruột non và mạch máu, sẽ chuyển hemoglobin (của máu) thành dạng met-hemoglobin, làm mất khả năng vận chuyển oxy của tế bào. Còn nếu ở dạng NO2- chúng sẽ kết hợp bao gồm axit amin thứ cấp tạo thành chất Nitrosamine - là cao nguyên chất gây ung thư rất mạnh.

Photpho (P): Photpho cần cho tất cả các loại cây trồng nhưng rõ rệt nhất là bãi biển núi cây họ đậu vì ngoài khả năng tham gia trực tiếp vào các quá trình sống của cây, chúng còn thúc đẩy khả năng cố định đạm của vi sinh vật cộng sinh.

- Khi thiếu P, lá cây ban đầu có màu xanh đậm, sau chuyển màu vàng, hiện tượng này bắt đầu từ các lá phía dưới trước, và từ mép lá vào trong. Cây lúa thiếu P làm lá nhỏ, hẹp, đẻ nhánh ít, trỗ bông chậm, chín kéo dài, nhiều hạt xanh, hạt lép. Cây ngô thiếu P sinh trưởng chậm, lá có màu lục rồi chuyển màu huyết dụ.

- Thừa P không có biểu hiện gây hại như thừa N vì P thuộc loại nguyên tố linh động, nó có khả năng vận chuyển từ cơ quan già sang cơ quan còn non.

Kali (K): Kali cần thiết cho mọi loại cây trồng, nhưng quan trọng nhất đối tới nhóm cây chứa nhiều đường hay tinh bột như lúa, ngô, mía, khoai tây ... Bón K sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng N và P

- Biểu hiện rất rõ khi thiếu K là lá hẹp, ngắn, xuất hiện các chấm đỏ, lá dễ héo rũ và khô. Cây lúa thiếu K sinh trưởng kém, trỗ sớm, chín sớm, nhiều hạt lép lửng, mép lá về phía đỉnh biến vàng. Ngô thiếu K làm đốt ngắn, mép lá nhạt dần sau chuyển màu huyết dụ, lá có gợn sóng. Điều đặc biệt là K có vai trò quan trọng trong việc tạo lập tính chống chịu của cây trồng đi tới điều kiện bất thuận (hạn, rét) cũng như tính kháng sâu bệnh, vì vậy nếu thiếu K sẽ làm những chức năng này suy giảm đi.

Lưu huỳnh (S): Lưu huỳnh tham gia trong thành phần protein, axit amin, vitamin, có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi lipit và sự hô hấp của cây.
- Biểu hiện đặc chưng khi cây thiếu S cũng có hiện tượng vàng lá như khi thiếu N, tuy nhiên khác 1 có thiếu N là hiện tượng vàng lá xuất hiện ở các lá non trước các lá trưởng thành và lá già. Khi cây thiếu S, gân lá chuyển vàng trong khi phần thịt lá vẫn còn xanh, sau đó mới chuyển vàng. Kèm theo những tổn thương trước hết ở phần ngọn và lá non, cộng đi tới sự xuất hiện các vết chấm đỏ trên lá do mô tế bào chết.

Canxi (Ca): Canxi có vai trò quan trọng trong việc hình thành tế bào, hình thành các mô cơ quan của cây. Chúng có ý nghĩa quan trọng trong việc trung hòa độ chua của đất cũng như việc khử độc do sự có mặt của các cation (Na+, Al3+ ...) trong nguyên sinh chất của tế bào. Cùng cao bằng P, Ca là nguyên tố hàng đầu để tăng năng suất và chất lượng cây họ đậu.

- Khi thiếu Ca thì đỉnh sinh trưởng và chóp rễ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do các mô phân sinh ngừng phân chia, sinh trưởng bị ức chế. Triệu chứng đặc trưng của cây thiếu Ca là các lá mới ra bị dị dạng, chóp lá uốn câu, rễ kém phát triển, ngắn, hóa nhầy và chết. Ca là chất không di động trong cây nên biểu hiện thiếu Ca thường thể hiện ở các lá non trước.

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

Cách trồng rau muống an toàn

Rau muống là loại rau rất phổ biến bởi tính chất dễ trồng, dễ chế biến món ăn và giá cả hợp lý, vì là loại rau ưa dùng của mọi người vì thế trong quá trình trồng rau muống đôi khi người nông dân sử dụng đến vài loại hóa chất kích thích cây tăng trưởng nhanh để tăng sản lượng rau, điều đó ảnh hưởng trực tiếp sức khỏe người sử dụng. Cách trồng rau muống an toàn pha trộn biển việc bón phân, phun thuốc trừ sâu sở hữu thời gian cách ly hợp lý sẽ đảm bảo độ sạch của rau ngọn núi đồng bằng sức khỏe con người.
Trồng rau muống cần phải có tuân theo kỹ thuật để tạo nguồn rau sạch
Trồng rau muống cần phải có tuân theo kỹ thuật để tạo ra sản phẩm rau sạch

Sau đây là kỹ thuật trồng rau muống :

1. Giống
– Hiện nay rau muống nước chủ yếu dùng các giống địa phương.
– Rau muống trồng cạn có thể dùng giống rau muống hạt nhập nội
2. Thời vụ
Trồng rau muống có thể trồng quanh năm. Tuy nhiên, trong mùa mưa rau muống thường bị nhiễm bệnh hơn mùa khô.
3. Chuẩn bị đất
– Có thể trồng rau muống trên nhiều loại đất khác nhau.
– Trồng rau muống ở cạn lên liếp rộng 1,2-1,5m; cao 12-15cm, mùa mưa lên liếp cao hơn khoảng 20cm.
-Trồng rau muống nước: chuẩn bị đất như đất trồng lúa.
– Trong mùa mưa: trồng rau muống ở cạn có thể trồng trong nhà lưới hoặc che phủ bạt nylon để tránh đất cát bám lên cây và dễ nhiễm các loại sâu bệnh.
4. Khoảng cách trồng rau muống
– Tùy theo đất trồng, giống và cách trồng mà áp dụng mật độ khác nhau.
– Đối ngọn núi đồng bằng rau muống gieo hạt có thể gieo từ 8-10kg hạt giống/1000m2.
– Trồng rau muống ở cạn và trồng rau muống ở nước có thể trồng bao gồm khoảng cách 10-15cm, tùy theo điều kiện đất. Mật độ trồng có thể biến động từ 20.000-150.000 chồi/1000m2.
– Khi trồng rau muống vùi đất kín 2-3 đốt.
– Đối cao bằng rau muống sau khi thu hoạch thường để lại từ 2-3 đốt. Nếu để lại nhiều đốt thì chồi nhiều nhưng nhỏ.
5. Bón phân (tính cho 1000m2)
Tùy theo đất mà lượng bón khác nhau. Trung bình lượng phân bón như sau:
– Bón lót: phân chuồng hoai mục 1,5-2 tấn, super lân 10-15 kg, kali 3-4 kg.
– Bón thúc: Thường dùng urê, sau mỗi lần thu hoạch khoảng 15-20 kg urê.
Lưu ý: Không bón quá nhiều urê. Nếu bón phân NPK hoặc phân DAP, cần phải tính lại lượng phân đạm, lân, kali cho phù hợp.
6. Phòng trừ sâu bệnh
Những dịch hại chính trên rau muống:
– Ốc bươu vàng, sâu khoang, rầy, bệnh gỉ trắng, đốm lá, tuyến trùng …
– Áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp như vệ sinh đồng ruộng, bắt ốc, ngắt bỏ ổ trứng ốc, sâu khoang. Khi sâu bệnh có mật số cao có thể gây hại dùng thuốc BVTV như sau:
+ Đối sở hữu sâu khoang: Dùng các loại chế phẩm vi sinh: như Biocin, Dipel hoặc dùng thuốc thảo mộc như Rotenone hoặc Neem, hay dùng thuốc gốc Cúc tổng hợp như Sumicindin, Karate…

Thứ Năm, 2 tháng 3, 2017

Sử dụng thuốc BVTV an toàn cho vườn cây ăn quả

Để đạt được mục tiêu an toàn và hiệu quả khi sử dụng thuốc BVTV cho vườn cây ăn quả cần lưu ý những điểm sau:

Thuốc bảo vệ thực vậtKhác bao gồm cây lúa và rau mầu, vườn cây ăn quả thường cao hơn đầu người nên phải hướng vòi phun lên cao, nước thuốc dễ rơi vào người phun, lượng nước thuốc rơi vãi xuống đất nhiều dễ gây ô nhiễm môi trường (do phần lớn người làm vườn không có bình phun thuốc phù hợp cho nên phải thấy được nguy cơ này để đề phòng).

Người làm vườn phải trang bị dụng cụ phòng độc khi phun thuốc như đội mũ rộng vành, mang khẩu trang, kính bảo hộ, mặc áo dài tay, kín cổ, mang bao tay. Dụng cụ bảo hộ có thể mua hoặc tự chế miễn sao ngăn chặn tối đa lượng thuốc sâm nhiễm vào cơ thể như dùng ngọn núi đồng bằng tấm nilon khoét tròn ở giữa chùm lên vai, ngực tránh thuốc rơi từ trên xuống. Mang ủng quấn xà cạp khi phải đi vào vùng có nhiều cỏ dại ở trong vườn.

Cần phải có bình bơm phù hợp cho cây ăn quả. Bình phun được tầm cao và áp lực đủ mạnh để tia nước thuốc phun ra mịn giúp tăng hiêu lực thuốc.

Phải biết rõ dịch hại, tác nhân, triệu chứng, các đặc điểm gây hại và khả năng gây hại để chọn đúng thuốc.

Thuốc hoá học không phải là biện pháp duy nhất để phòng trừ dịch hại mà còn có các biện pháp khác như: Giống, cách bón phân, xén tỉa cành, cách tưới nước, trồng xen, làm cỏ… giữ vai trò quan trọng tạo điều kiện cho cây phát triển tốt chống chịu được sự gây hại, hạn chế hoặc phòng ngừa dịch hại.

Ở vườn cây ăn quả thiên địch giữ đi đến vai trò quan trọng trong việc bộc phát dịch hại. Thành phần của thiên địch rất phong phú tới nhiều nhóm, nhiều loài khác nhau như nhóm côn trùng kí sinh, nhóm ăn mồi, nhóm gây bệnh. Sử dụng quá nhiều và không đúng thuốc làm tổn hại pha trộn biển sức sống sót và phát triển của thiên địch.

Chỉ sử dụng thuốc BVTV khi cần thiết. Phải thường xuyên thăm vườn để kịp thời phát hiện dịch hại dựa trên mật độ, mức độ gây hại và sự phong phú của thiên địch trong vườn để có biện pháp đối phó kịp thời.

Nhiều loại sâu hại như nhóm sâu ăn lá mặc dù hiện diện nhưng không gây hại nghiêm trọng vì cây ăn quả có khả năng đền bù rất cao không cần thiết phải phun thuốc chỉ phun khi mật độ sâu cao.

Các loại thuốc hoá học có thể gây bộc phát tính kháng thuốc rất nhanh của dịch hại vì vậy nếu phải sử dụng nhiều lần nên luân phiên các loại thuốc có gốc hoá học khác nhau. Đối 1 có nhện, rầy, rệp rính, sâu vẽ bùa có thể áp dụng dầu khoáng D.C Tron. Plus, SK Eusplay...
Không nên phun thuốc tràn lan trong vườn, chỉ phun trên những cây bị nhiễm dịch hại. Đối một nhóm gây hại trên bông, hạn chế phun thuốc lúc cây ra hoa để tránh gây hại côn trùng giúp cho sự thụ phấn của cây.

Cây ăn quả trồng sát các ao, mương cần cẩn thận khi phun thuốc, tránh thuốc gây ô nhiễm môi trường nước hoặc làm cá chết. Vùng nuôi cá không nên dùng các loại thuốc trừ sâu độc cho cá mà nên dùng các loại thuốc như:Dầu khoáng D.C Tron. Plus, SK Eusplay và các loại thuốc ít độc cho cá.

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

Giống khoai tây Atlantic

Khoai tây Atlantic từ khi trồng cho sở hữu khi thu hoạch khoảng 95 1 có 100 ngày, trồng từ giữa tháng 10 với đầu tháng 11, năng suất bình quân đạt trên 20 tấn/ha.
Giống khoai tây atlanticAtlantic là giống khoai tây có chất lượng cao phù hợp cho chế biến khoai tây chiên lát (chips) công nghiệp. Giống có khả năng sinh trưởng mạnh, thờigian sinh trưởng (90-100 ngày), tiềm năng năng suất cao (25 - 35 tấn/ha), tỷ lệcủ thương phẩm lớn (75-80%). Atlantic là giống chịu nhiệt tốt, nhưng mẫn cảmvới bệnh mốc sương trong điều kiện thời tiết lạnh, mưa hoặc sương mù nhiều.Giống khoai tây Atlantic đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống chosản xuất thử theo Quyết định số 3468/QĐ–BNN-TT, ngày 05/11/2007 và được công nhận là giống cây trồng theo Quyết định số 305/QĐ-TT-CLT ký ngày 04/12/2008.Bưởi đỏ giống

Khoai tây Atlantic từ khi trồng cho pha trộn biển khi thu hoạch khoảng 95 tới 100 ngày, trồng từ giữa tháng 10 bãi biển núi đầu tháng 11, năng suất bình quân đạt trên 20 tấn/ha. Để giảm giá thành trồng khoai tây vụ đông, bà con được hướng dẫn cắt củ giống khoai tây thành các “mẫu” giống: chọn củ to, củ có khối lượng ít nhất 50 gam để cắt thành 2 hoặc 3 mẫu giống. Nguyên tắc cắt mỗi mẫu giống phải có 1 mầm khỏe, khối lượng miếng cắt không nhỏ hơn 25 gam. Khi cắt mẫu giống khoai tây nên dùng dao sắc, mỏng để cắt, cắt xong dùng xi măng để chấm vào vết cắt. Thường cắt mẫu giống khoai tây trước khi trồng 2 pha trộn biển 3 ngày để hình thành vết sẹo trước khi đưa mẫu giống đi trồng. Theo ước tính của bà con nông dân, sau khi trừ chi phí thì 1 sào khoai tây sẽ cho lãi hơn 3 triệu đồng, 1 ha khoai tây sẽ lãi hơn 80 triệu đồngCam V2 giá rẻ nhất